Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Si La tỉnh Điện Biên

Thời gian đăng: 12/27/2016 2:30:03 PM

Đồng bào dân tộc Si La là 1 trong 5 dân tộc thiểu số trong cả nước có số dân dưới 1.000 người. Đây là dân tộc có nguy cơ mai một về tộc người nguy cơ đồng hóa văn hóa cao cần đặc biệt quan tâm.

Địa vực cư trú của đồng bào Si La tại Tỉnh Điện Biên tập trung ở bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé là một huyện miền núi, nằm bên ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào. Tính đến tháng 10 năm 2015 người Si La tại bản Nậm Sin có 43 hộ trong đó có 29 hộ người Si La với 208 nhân khẩu. Ngoài ra, người Si La còn phân bố rải rác ở các huyện Mường Chà, thành phố Điện Biên Phủ là 8 người thuộc một dòng tộc họ Hù có nguồn gốc từ bản Seo Hay, huyện Mường Nhé trước khi chia tách tỉnh khá lâu; tổng cộng trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 216 nhân khẩu.

Người Si La sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy và lúa nước, hái lượm, chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Mặc dù đồng bào đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, sản xuất nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi nhưng do chưa biết cách khai thác hết tiềm năng tài nguyên đất, nước, sông, suối tại địa vực cư trú để phát triển kinh tế nâng cao đời sống nên tỷ lệ đói nghèo vẫn cao; mặc dù trong những năm qua, tỉnh đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt đối với dân tộc Si La là dân tộc rất ít người. Các chương trình, dự án đã giải quyết được những vấn đề cấp bách nhất trên địa bàn thôn bản, góp phần giải quyết khó khăn về đời sống và sản xuất; thực hiện xóa đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu giữa các vùng, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết, tạo niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước.

Về văn hóa: Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia từ năm 2010 - 2012 Ngành đã nghiên cứu, bảo tồn lễ Cúng bản, Lễ cúng cơm mới;

Theo những người cao tuổi và các nguồn tư liệu người Si La có vốn văn hóa vô cùng phong phú: Nhà ở của người Si La là nhà trệt, có bố trí gian khách, gian chủ nhà  phía trong cửa gian thờ tổ tiên có bếp lửa thiêng, gian phòng ngủ cho con gái, con trai riêng;

Trang phục truyền thống của người Si La còn rất ít người có và chỉ mặc vào những dịp lễ, tết; nét độc đáo trong trang phục phụ nữ  Si La vẫn được bảo lưu như mảng áo trước ngực trang trí gắn nhiều đồng xu bạc, xu nhôm và các họa tiết hoa văn tạo nên vẻ đẹp khá độc đáo, bên cạnh đó nét độc đáo. Trang phục nữ Si La mặc thường ngày hiện nay mặc gần giống trang phục dân tộc Thái.

Trong sự phát triển tiến bộ của đời sống xã hội hiện nay, cơ bản những giá trị văn hoá đồng bào Si La tích luỹ, nuôi dưỡng từ bao đời nay vẫn được lưu giữ được trí nhớ, tiềm thức của những người cao tuổi như tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội, các nghi lễ liên quan đến gia đình, cộng đồng, lễ hội, tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp như: Lễ thu hoạch (có du mía lố), Lễ tra hạt xuống giống (cà si le), Lễ mừng cơm mới (ồ mí khe ); Lễ lên lão (lễ mừng thọ - bà hù từ), lễ Cúng bệnh, Tang ma, Lễ cưới, Lễ lên nhà mới (ý đạ khệ), Lễ cúng bản (Plạ khơ thú), Tết (U xì dệ), tập quán Sinh đẻ và nuôi con… Tuy nhiên, hiện nay tập quán xã hội và tín ngưỡng chỉ còn duy trì: Lễ cúng bản, Lễ mừng cơm mới, Tết.

Những quan niệm, nghi lễ truyền thống dân tộc Si La có ý nghĩa tích cực khích lệ con người phấn đấu vươn tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Các lễ thức trong nghi lễ cúng tế, tạ ơn phong phú, đa dạng mang tính cộng đồng cao, có ý nghĩa giáo dục và có giá trị nhân văn sâu sắc và trao truyền qua nhiều thế hệ. Nhưng đến nay nhiều lễ tổ chức đơn giản hóa chỉ mang tính chất thủ tục và đang có nguy cơ bị mai một dần như Lễ cúng bản trước kia được tổ chức và cấm bản trong 03 ngày 03 đêm, hiện nay chỉ tổ chức trong một buổi và cấm bản 01 ngày, 01 đêm. Các làn điệu dân ca, dân vũ còn lại rất ít, cũng đang có nguy cơ dần bị thay thế bởi âm nhạc hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực một số nghi lễ, quan niệm như bệnh tật, cưới xin, cúng tế còn lạc hậu, cổ hủ  mang nặng yếu tố thần linh siêu phàm, xa rời thực tế cuộc sống.

Về ngữ văn truyền miệng của người Si La: Tuy dân tộc Si La không có chữ viết riêng, nhưng trong cuộc sống hàng ngày họ đã sáng tạo ra một nền văn học, nghệ thuật dân gian phong phú về ca dao, tục ngữ, lời khấn, truyện cổ lưu truyền còn tồn tại một số ít không đáng kể. Mặc dù theo kết quả nghiên cứu trước đây dân tộc Si La có rất nhiều truyền cổ Si La như: Chàng mồ côi nghè (Bu si me si ê dè), Chín dốt một khôn (Kỳ le Zhồ thừ le quẹ), Bà goá gọi củ mài từ trên ngọn cây xuống đất (Mì shì mừ khú ha),  Đổi cánh lấy lửa (à tố nẹ, mì dú phạ), Đười ươi và người đánh cá (ế hê ne xu dè), Vì sao người Si La không có chữ (Pha bjọ mà xừ) Đi tìm nước (uchò hoi).

Về diễn xướng dân gian: Đồng bào Si La trước đây có nhiều điệu hát khá phong phú như: Hát dân ca, hát đối (phú phá), hát giao duyên (rề mì rề kho cha phụa), hát ru (rề mí i chì), hát đám cưới (rề mì khu), hát đám ma, hát chúc mừng, hát vào mùa cầu mùa, hát về huyền thoại đá thần, hát nguồn gốc dân tộc Si La; hát lời tâm tình của đôi trai gái đang yêu; hát  ru; hát Chúc mừng năm mới; hát Mừng nhà mới (í tư khe); hát ca ngợi trang phục dân tộc; hát Bài ca vào mùa… Hiện  nay, trong cộng đồng lớp trẻ chỉ còn biết hát những điệu hát: hát vào mùa cầu mùa, hát ca ngợi trang phục dân tộc; hát Bài ca vào mùa…

Về múa: Múa () của người Si La còn một số điệu múa nhưng rất giống với điệu múa sản xuất của người Hà Nhì gồm có múa xòe (ô xy rề lượn), múa sạp (đé dù lớ), múa vào mùa, múa cầu mùa, múa trình diễn trang phục, múa trong đám ma, các động tác múa được nâng cao mô phỏng từ các hiện tượng trong thiên nhiên (gió, mưa), các động tác trong lao động, sản xuất. Đồng bào ít có điều kiện để tổ chức sinh hoạt vui chơi, giải trí hay hoạt động  văn  nghệ.

Theo những người cao tuổi trước đây tộc người này có nền âm nhạc rất phong phú và mang tính đặc trưng của tộc người với các đạo cụ như: Đàn bầu cán dài (tứ phề); đàn bầu cán ngắn (tứ phề là phu); đàn môi (dề phà); đàn nhị hai dây (tứ xi); sáo (là bí); Trống (thồ phù);chiêng (kỳ khọ). Trong đó các nhạc cụ thuộc bộ hơi như sáo nứa (bemp), sáo (Lâm bi), sáo sậy, sáo của người cao tuổi, ngoài ra còn có đàn ba dây, kèn lá. Nhạc cụ dây (gẩy, kéo): Đàn tứ phề, đàn (đức phề), đàn tứ phề. Nhạc cụ gõ có trống cái (thồ phù), chiêng (kỳ kho) và xập xoẹ (ché chẹ) sử dụng ở các nghi thức tín ngưỡng (đám tang) vui chơi (đệm cho múa (mựa). Trong quá trình di cư cùng với cuộc sống khó khăn, lạc hậu, kỹ thuật chế tác và sử dụng nhạc cụ không được lưu truyền.

Nghề thủ công truyền thống: Đan lát, túi đan bằng tơ dây sắn rừng là một sản phẩm độc đáo nay đã mai một. Tuy nhiên, về thời gian lấy dây, sắn rừng, loại dây, cách sơ chế, kỹ thuật đan, trang trí vẫn vẫn bảo lưu trong trí nhớ những người cao tuổi.

Người Si La ở bản Nậm Sin vốn được tách ra từ bản Seo Hay (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu). Tại nơi bản cũ được tách ra những người cao tuổi nơi đó vẫn lưu giữ được vốn ngữ văn dân gian phong phú của người Si La với các sự tích, truyền cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ, các câu đố nhưng do những người cao tuổi bản Nậm Sin qua đời chưa kịp lưu truyền nên hiện nay thế hệ trẻ không nắm được vốn văn hóa dân gian phong phú vốn có này. vốn y học, dược học dân gian, kỹ thuật đan lát…Những tri thức dân gian đó cần được nghiên cứu, phổ biến trong cộng đồng để nâng cao ý thức bảo tồn phát huy giá trị phục vụ đời sống và phát triển du lịch cộng đồng.

Dân tộc Si La ở Điện Biên tuy là một dân tộc thiểu số ít người có nền văn hóa rất đa dạng, phong phú chứa đựng sắc thái riêng của tộc người, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển hòa nhập cộng đồng, những gì thuộc về bản sắc văn hóa Si La đã có phần mai một. Vì vậy cần có những chính sách bảo tồn kịp thời.

Trong những năm qua Đảng, chính phủ luôn quan tâm về mọi mặt đối với người Si La, nhưng do trình độ dân trí thấp, nhận thức về xã hội còn nhiều hạn chế nên việc  khai thác sử dụng các công trình được dự án đầu tư chưa hiệu quả do nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện, đó là nguồn kinh phí thực hiện cho các đề án, dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn kinh phí được cấp cho hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa còn hạn hẹp và cấp chậm; Việc đầu tư, bảo tồn và phát huy hiệu quả giá các di sản văn hóa còn ít, dàn trải và nhiều khó khăn; thông tin liên lạc tới bản bằng điện thoại chưa được kết nối. Một số giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu của các dân tộc (nhà cửa, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội,..) đang đứng trước nguy cơ mai một.

Do điều kiện giao lưu văn hóa giữa các vùng miền của người Si La còn hạn chế; ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường gây nên hệ luỵ những nét văn hoá truyền thống có phần phai nhạt. Phong trào văn hóa, văn nghệ chưa phát triển, giao lưu văn hóa, văn nghệ ít đến được các vùng sâu vùng xa nơi bản người Si La; Do thiếu người truyền dạy, thiếu các phương tiện thông tin nên đồng bào chưa nhận thức được vấn đề giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc mình, khiến cho vốn văn hóa bản địa phong phú của họ có nguy cơ mai một, thất truyền. Do trình độ văn hóa, trình độ dân trí thấp nên ý thức giữ gìn, bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc còn nhiều hạn chế.

Văn hóa truyền thống của dân tộc này đã không còn nguyên vẹn, trong tiến trình phát triển của xã hội, do ảnh hưởng sự giao thoa văn hóa các vùng miền, các dân tộc láng giềng, văn hóa ngoại lai, đồng bào chưa biết cách tiếp thu có chọn lọc để bảo tồn và phát huy vốn văn hóa quí báu của dân tộc mình.

Giải pháp thực hiện bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc Si La: quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Nâng cao hiệu quả chỉ đạo và tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức, và cá nhân đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá các dân tộc Si La;

Thực hiện Nghị định số 62/2014/NĐ-CP, ngày 25 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” đối với các dân tộc tỉnh Điện Biên trong đó có người Si La.

Tham mưu với các cấp chính quyền xây dựng trường trung học phổ thông tại thôn bản người Si La, có chính sách hỗ trợ toàn phần đối với con em dân tộc Si La để khuyến khích các em đi học và thi tuyển vào các trường chuyên nghiệp tạo mọi điều kiện để các em trở về  phục vụ địa phương.

Tổ chức truyền dạy, sản xuất, bao tiêu sản phẩm, tuyên truyền quảng bá trang phục truyền thống, túi đan bằng tơ dây sắn rừng có thể trở thành hàng hóa tiêu dùng, hàng lưu niệm cung cấp và tiêu thụ trên thị trường trong nước và quốc tế và khi cửa khẩu A Pa Chải- Việt Nam và Trung Quốc mở cửa giúp đồng bào phát huy bản sắc dân tộc và xóa đói giảm nghèo; đặc biệt là bộ trang phục độc đáo của phụ nữ Si La cũng là sản phẩm du lịch độc đáo đối với khách du lịch trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Cần tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động  bảo tồn văn hóa vật thể phi vật thể dân tộc Si La; tuyên truyền xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số;Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, sớm giảm tỉ lệ hộ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, xoá mù chữ, nâng cao dân trí; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Si La; phân tích, vận động nhân dân từng bước xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; hỗ trợ kinh phí cho đồng bào Si La tham gia các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao, du lịch giúp bà con nâng cao nhận thức về pháp luật, xóa đói giảm nghèo, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc.

Tham mưu với các cấp ban hành quyết định ưu tiên đặc biệt phân công công tác cho con em dân tộc Si La sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp các hệ đào tạo.

Các mục tiêu cần hỗ trợ, bảo tồn: bảo tồn làng/bản truyền thống; bảo tồn lễ hội truyền thống; bảo tồn làng nghề truyền thống; xây dựng đội văn nghệ, thể thao thôn/bản; tổ chức tập huấn truyền dạy những loại hình di sản độc đáo; hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp Nhà văn hóa thôn/bản; hỗ trợ công tác xây dựng nội dung, chương trình, tổ chức truyền dạy cách thức tổ chức các nghi lễ tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội tuyền thống; có chính sách hỗ trợ sưu tầm di sản, tư liệu hoá tư liệu các loại hình di sản phụ vụ sản xuất, xuất bản các ấn phẩm, xuất bản phẩm, Sách; sản xuất, xuất bản các ấn phẩm, xuất bản phẩm: sách, báo, website, CD, VCD, CD ROM, tờ rời, progam... nhằm giới thiệu, quảng bá, tuyên truyền các loại hình di sản văn hóa Si La tỉnh Điện Biên; hỗ trợ trang thiết bị, trang phục truyền thống cho hoạt động văn hóa, văn nghệ thôn/bản; hỗ trợ đầu tư xây dựng bản Văn hóa Du lịch; Hỗ trợ xây dựng tour, tuyến du lịch, quảng bá du lịch cộng đồng, trải nghiệm làng bản dân tộc Si La; xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc tại địa bàn ổn định dân cư; hỗ trợ biên soạn, dịch thuật, phân loại lưu giữ ngữ văn truyền miệng, tri thức dân gian chế tác nhạc cụ, chế tác công cụ sản xuất, đồ dung sinh hoạt, may trang trí trang phục truyền thống… Mua một số nhạc cụ truyền thống sử dụng trong trình diễn nghệ thuật dân gian và thuê nghệ nhân bản Seo Hay, tỉnh Lai Châu truyền dạy, vì bản không còn nghệ nhân biết chế tác và truyền dạy; tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hóa, làng bản văn minh; hỗ trợ kinh phí tổ chức truyền dạy, luyện tập các trò chơi dân gian.

Để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Si La, trong những năm tới các cấp chính quyền cần quan tâm hơn nữa trong việc tăng mức đầu tư các dự án, Chương trình mục tiêu quốc về nghiên cứu, bảo tồn, phục dựng các loại hình văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.Tăng nguồn kinh phí cấp cho các đơn vị sự nghiệp thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị  các di sản văn hóa.Tạo điều kiện thực hiện một số chương trình về phát triển du lịch cộng đồng do Tổng cục Du lịch và Liên minh EU tài trợ và các hoạt động khác trong lĩnh vực du lịch của tỉnh.

Nguồn tin: svhttdldienbien.gov.vn

  • HỆ THỐNG VĂN BẢN
  • Số/Ký hiệu: 123/KH-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
  • Số/Ký hiệu: 123/KH-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc xin ý kiến kế hoạch phát triển CNTT năm 2017
  • Số/Ký hiệu: 123/KH-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc xin ý kiến kế hoạch phát triển CNTT năm 2017
  • Số/Ký hiệu: 123/BC-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc xin ý kiến kế hoạch phát triển CNTT năm 2017
  • Số/Ký hiệu: 123/BC-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc xin ý kiến kế hoạch phát triển CNTT năm 2017
  • Số/Ký hiệu: 123/BC-UBND
    Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc xin ý kiến kế hoạch phát triển CNTT năm 2017
  • THƯ VIỆN VIDEO
  • LIÊN KẾT WEBSITE